Ngày 28/01/2026, Cục Chăn nuôi và Thú y ban hành công văn số 329/CNTY-DT gửi Sở Nông nghiệp và Môi trường 34 tỉnh, thành trên cả nước hướng dẫn phương pháp xét nghiệm chẩn đoán phân biệt vi rút Dịch tả heo Châu Phi chủng thực địa và chủng vắc xin nhược độc.
VAI TRÒ CÁC ĐOẠN GEN BỊ CẮT TRONG VẮC XIN PHÒNG BỆNH DTHCP DO CHỦNG GENOTYPE II
Vắc xin NAVET-ASFVAC và vắc xin DACOVAC-ASF2 được sản xuất từ chủng vi rút DTHCP được cắt gen (xóa gen) I177L để làm giảm độc lực; Vắc xin AVAC ASF LIVE được sản xuất từ chủng vi rút DTHCP được cắt 06 gen thuộc họ MGF360 và MGF505 (MGF505-1R, MGF360-12L, MGF360-13L, MGF360-14L, MGF505-2R và MGF505-3R) để làm giảm độc lực. Tất cả 03 loại vắc xin nêu trên đều được tạo ra từ chủng gốc vi rút DTHCP genotype II gây bệnh tại Geogia được phân lập vào năm 2008.
Gen I177L là một gen quyết định độc lực quan trọng của vi rút DTHCP. Việc xóa gen I177L làm vi rút mất khả năng gây bệnh trên heo nhưng vẫn duy trì khả năng kích thích đáp ứng miễn dịch bảo hộ, do đó được ứng dụng trong phát triển vắc xin sống giảm độc lực. Các gen MGF360 và MGF505 đóng vai trò ức chế đáp ứng interferon của vật chủ, giúp vi rút né tránh miễn dịch. Việc xóa các gen này làm giảm độc lực của vi rút DTHCP.
PHÂN BIỆT CHỦNG THỰC ĐỊA VÀ CHỦNG VẮC XIN NHƯỢC ĐỘC
Hiện tại các phòng xét nghiệm thuộc Cục Chăn nuôi và Thú y đã có quy trình chuẩn sử dụng kỹ thuật Real-time PCR với cặp mồi (primers) được thiết kế đặc hiệu với đoạn gen bị cắt để thực hiện xét nghiệm chẩn đoán phân biệt vi rút DTHCP chủng thực địa và chủng vắc xin nhược độc trong 03 loại vắc xin DTHCP nêu trên.
Bước 1. Phát hiện gen B646L mã hóa protein p72 có trên tất cả các chủng vi rút DTHCP (gồm cả chủng thực địa và chủng vắc xin).
Bước 2. Phát hiện đoạn gen I177L hoặc MGF360-12L (tùy thuộc vắc xin sử dụng).
Diễn giải kết quả xét nghiệm theo bảng sau:
Trường hợp
Gen p72
Gen I177L hoặc gen MGF360-12L
Kết luận
1
+
Vi rút tìm thấy là vi rút thực địa
2
-
Vi rút tìm thấy là vi rút vắc xin xóa gen I177L hoặc MGF360-12L
3
Không có sự hiện diện của vi rút thực địa và vi rút vắc xin hay tải lượng vi rút thấp
KHUYẾN CÁO CỦA WOAH VÀ CHẨN ĐOÁN TOÀN DIỆN
Theo Tổ chức Thú y thế giới (WOAH), mẫu bệnh phẩm phù hợp dùng để phát hiện vi rút DTHCP là máu toàn phần chống đông bằng EDTA, huyết thanh và mẫu mô tổ chức, bao gồm lách, hạch bạch huyết (đối với heo đã được tiêm vắc xin, ưu tiên lấy mẫu hạch gần với vị trí chỗ đã tiêm vắc xin), gan, amidan, tim, phổi, thận. Mẫu swab dịch mũi họng có thể có tải lượng vi rút thấp hơn so với máu và mô phủ tạng. Đối với heo chết, các mẫu ưu tiên lấy như hạch bạch huyết, lách, phổi. Mẫu thịt hoặc dịch tiết mô cũng có thể được sử dụng xét nghiệm.
Hiện chưa có dữ liệu nghiên cứu đầy đủ về thời điểm vi rút vắc xin xuất hiện trong máu hoặc trong mô tổ chức và thời gian tồn lưu vật liệu di truyền của vi rút chủng vắc xin trên heo. Khi lấy mẫu quá sớm lúc vi rút có tải lượng thấp dẫn đến giá trị Ct cao có thể cho kết quả âm tính giả và nếu lấy mẫu muộn thì không còn vật liệu di truyền của vi rút chủng vắc xin, do vậy không thể phân biệt được với kết quả âm tính từ chủng vi rút thực địa.
Vi rút vắc xin nhược độc nhân lên hạn chế và phân bố mô không đồng đều, tải lượng vi rút trong nhiều loại mẫu thường thấp, dẫn đến độ nhạy phát hiện giảm so với vi rút thực địa.
Trường hợp vi rút DTHCP chủng thực địa bị đột biến, tái tổ hợp, hoặc mất một phần vùng gen trùng với vùng gen đã bị xóa của vi rút vắc xin, việc diễn giải kết quả dựa trên vùng gen này có thể dẫn đến nhầm lẫn giữa vi rút thực địa và vi rút vắc xin.
Trường hợp heo nhiễm đồng thời cả vi rút DTHCP chủng vắc xin và vi rút chủng thực địa sẽ không thể chẩn đoán phân biệt; đặc biệt khi heo đã tiêm vắc xin DTHCP nhưng vừa mới phơi nhiễm vi rút DTHCP chủng thực địa (hoặc ngược lại).
Trường hợp tải lượng DNA của vi rút DTHCP chủng thực địa trong mẫu thấp, do độ nhạy của phát hiện gen p72 cao hơn gen I177L hoặc gen MGF360-12L, mẫu có thể dương tính với gen p72 nhưng âm tính với gen I177L hoặc gen MGF360-12L, dẫn đến nhầm lẫn với vi rút vắc xin. Do đó, cần chú ý tới độ nhạy (ngưỡng phát hiện) trong phát hiện gen p72, I177L hay MGF360-12L.
Với heo đã tiêm vắc xin DTHCP sống, nhược độc, có thể tồn lưu một tỷ lệ nhỏ DNA của vi rút vắc xin trong cơ thể sau khi tiêm. Vì vậy, khi xuất bán, giết mổ, tiêu thụ heo đã tiêm vắc xin DTHCP, trong trường hợp heo vẫn khỏe mạnh về mặt lâm sàng, không có triệu chứng, bệnh tích của DTHCP, nếu lấy mẫu xét nghiệm gen p72 dương tính thì cần làm thêm xét nghiệm phân biệt để định rõ vi rút là chủng thực địa hay chủng vi rút vắc xin.
Với những hạn chế nêu trên, Tổ chức Thú y thế giới nhấn mạnh sự cần thiết phải kết hợp với thông tin dịch tễ, lịch sử tiêm phòng, lâm sàng, kết quả mổ khám để kết luận trường hợp heo, sản phẩm thịt heo bị nhiễm vi rút DTHCP chủng thực địa hoặc vi rút DTHCP chủng vắc xin vì vi rút DTHCP có bộ genome lớn và khả năng biến đổi tái tổ hợp cao.
Khoa học kỹ thuật
Add comment
Theo ông/bà có hài lòng về thời hạn trả kết quả thủ tục hành chính như đã hẹn không (trả trễ hẹn, đúng hẹn, trả trước hẹn) ?